Những người có thể thấy được tương lai


Những người có thể thấy được tương lai

Khả năng của con người thật vô cùng vô tận. Vượt xa những trường hợp nhìn “xuyên qua” tường gạch, qua vải đen bịt mắt, Giuna Đavitasvili (Liên Xô cũ) đã chứng minh được khả năng “nhìn” những sự vật cụ thể ở nơi cách xa mười ngàn dặm. Có những người lai có thể “thấy” được tương lai. Đây là một vấn đề khoa học đang được nhiều nhà khoa học để tâm huyết tích cực xây dựng – ngành khoa học mới nghiên cứu về hiện tượng tiên đóan tương lai. Hiện tượng tiên đóan tương lai thật đa dạng, nhiều khi chính xác một cách kỳ lạ. Có thể kể với các bạn một vài mẩu chuyện kỳ thú sau:

Năm 1957, tại Viện bảo tàng Istamboul (Thổ Nhĩ Kỳ) người ta khám phá ra nhiều bản đồ của một thuyền trưởng hải tặc tên là Piri Reis, người gốc Ai Cập, năm 1951 đã cùng vua đánh chiếm thành Mascate (Arập). Khi trở về Ai Cập, Reis bị vua Ahpacha tịch thu toàn bộ tài sản cướp bóc. Sau đó, Reis bị vua Solima (Thổ Nhĩ Kỳ) bắt đem xử tử. Reis để lại cho đời hai bản đồ về Hồng Hải và biển Eglée. Ngoài ra, Reis còn vẽ một bản đồ thứ 3 (từ năm 1513 đến 1525) trình bày cả tên Mallery đã khảo sát bản đồ với sự trợ giúp của Phòng Hải đồ thuộc hải quân Hoa Kỳ. Sau khi xem xét kỹ càng các bản đồ xưa này bằng những phương pháp khoa học hiện đại, các nhà chuyên môn phải nhìn nhận giá trị cổ xưa của nó và không khỏi lạ lùng vì bản đồ vẽ đúng y những bờ Nam Mỹ, Bắc Mỹ và Nam Băng Dương. Không những đúng đường nét bờ biển mà còn đúng cả địa hình bên trong đất liền của núi, đồi, thung lũng, cao nguyên. Cả những mỏm núi ngầm dưới Nam Băng Dương cũng được vẽ với đầy đủ cao độ (những mỏm núi này chỉ được khám phá năm 1952). Một chi tiết khác: Groenland được ghi trong bản đồ của Reis dưới hình thức ba hòn đảo với nhau – đúng như khám phá của một đoàn thám hiểm Pháp – Mỹ vào những năm 1960, nhờ những dụng cụ đo lòng biển tối tân. Như vậy, những bản đồ vẽ vào năm 1550 còn đúng hơn cả những bản đồ của năm 1950. Người ta cho rằng, Reis đã dựa vào những tài liệu có từ cuối thời băng thạch để vẽ là cách đây hơn một vạn năm. Phương tiện duy nhất để thảo những bản đồ loại này chỉ có thể là máy bay. Thế nhưng lúc ấy làm gì có máy bay và dụng cụ chụp ảnh? Thật kỳ lạ!

Cũng không kém phần lạ lùng, văn hào Anh Jonathan Swift trong quyển Guliver du ký, đã viết về những khám phá của các nhà thiên văn xứ Laputa như sau: “Họ bỏ ra gần trọn đời mình để quan sát thiên thể… Họ đã khám phá ra hai ngôi sao nhỏ – hai vệ tinh quay xung quanh sao Hoả, vệ tinh bên trong cách trung tâm sao Hoả một khoảng cách bằng ba lần đường kính của nó, còn khoảng cách vệ tinh bên ngoài thì bằng 5 lần đường kính sao Hoả. Vệ tinh thứ nhất bay một vòng đúng mười giờ và vệ tinh thứ hai bay một vòng đúng hai mươi giờ rưỡi”.

Lúc ấy vào năm 1726. Đoạn tả quá rõ ràng về kích thước hai vệ tinh của sao Hoả của Swift, đã làm cho Voltaire Flammarion đả kích mạnh mẽ, họ cho rằng Swift quá tưởng tượng. Phải đợi đến năm 1877 vấn đề ấy mới được tỏ rõ. Chiều ngay 11 tháng 8 năm ấy, nhà thiên văn Hall đã quay kính viễn vọng mạnh nhất của đài thiên văn Hoa Thịnh Đốn, hướng thẳng về sao Hoả (Hỏa tinh hôm đó ở vào thời kỳ gần trái đất nhất). Thế là vệ tinh Phobos được phát hiện vào 6 hôm sau đến lượt vệ tinh Demos, Hall đã đo được quỹ đạo của hai vệ tinh này. Mọi người đều kinh ngạc: chẳng những Swift đã đóan đúng kích thước và khoảng cách sao HOả bằng ba đường kính của nó, trong khi khoảng cách thật sự là 2,77 (khoảng 9.230 km); ông còn viết thời gian quay một vòng đúng 10 giờ, trong khi sự thật là 6,95 (khoảng 12.400 km) và vòng quay đúng là ba mươi giờ mười tám phút thay cho hai mươi giờ rưỡị

Ở đây, chỉ có thể giải thích nhờ trí tưởng tượng phong phú, Swift đã thấy trước được hai vệ tinh sao Hoả, nhưng độ chính xác của khoảng cách và vòng quay như đã nêu trên, thì chịu, không thể giải thích được vì sao Swift đề cập được như vậy?

Cũng vậy, Alexei Tolstoi (1883 – 1945) đã nêu được các chi tiết thuộc tính của tia laser trong quyển “Tia sáng giết người của kỹ sư Garin” trước khi tia laser được phát hiện. Hoặc trường hợp một nhà văn Tiệp Khắc, đã nhắc đến hình tượng “người máy” trong tác phẩm của mình trước khi các rô-bốt ra đời. Có lẽ họ đã nhìn thấy trước trên cơ sở óc tưởng tượng phong phú của mình và dựa vào các tiền đề khoa học kỹ thuật phát triển ở đầu thế kỷ hai mươi. Đó cũng là trường hợp nhìn thấy tương lai trước hàng thế kỷ của Jules Verne, nhà văn Pháp (1828-1905). Ông nói: “Mặc dù tôi tưởng tượng, tôi hư cấu, nhưng bao giờ tôi cũng đứng trên mảnh đất của sự thật”. Trong vòng non nửa thế kỷ qua, các tiên đóan của Jeles Verner đã trở thành hiện thực, chẳng hạn: Con người đã tổng hợp kim cương (J. Verne đã viết đến ở quyển “Sao Nam”), sản xuất tàu ngầm (qua miêu tả ở “Hai vạn dăm dưới đáy biển”), phóng vệ tinh lên mặt trăng (từ Trái đất lên Mặt trăng), lắp đặt các trạm ra đa (Đoàn thám hiểm Barsac)… Năm 1896, nhà văn Anh Mathow Philip Shiel đã cho xuất bản một quyển sách, nói về hành động tàn sát dã man hàng vạn con người của một tập thể sát nhân tại Châu Âu. Bọn này sử dụng các lò thiêu người để hủy diệt con người. Chúng có tên là đoàn SS (viết tắt của hai chữ Société de Sport) cũng là tựa đề của cuốn sách nói trên. Đó cũng chính là sự thật đau lòng xảy ra gần bốn mươi năm sau. Cuộc tàn sát dã man hàng vạn người Châu Âu của tập đoàn S.S của Hitler (Ðức quốc xã). Cuốn sách này chưa bao giờ được dịch ra tiếng Ðức và ngay thời Ðức quốc xã.

Năm 1898, nhà văn Mỹ Morgan Robertson đã đưa in cuốn tiểu thuyết hàng hải. Quyển sách nói về một chiếc tàu thủy khổng lồ – thương thuyền Titan – vượt đại dương có ba chân vịt, chở 3 ngàn hành khách. Một đêm tháng tư, trong chuyến du hành đầu tiên Titan đã đụng phải băng thạch và bị chìm. Mười bốn năm sau, ở ngoài đời, trong đêm 14 rạng ngày 15-4-1912, một thương thuyền đã gặp tai nạn và chìm trong vùng biển Bắc Ðại Tây Dương sau khi đụng phải băng thạch, thuyền ấy có tên là Titanic. Hôm ấy là chuyến du hành đầu tiên, tầu chở ba ngàn hành khách. Tàu có ba chân vịt và dài đúng bằng độ dài của chiếc tàu viết trong tiểu thuyết.

Năm 1892, các tàu thủy trên tàu tuần tiễu Araguari của Braxin vớt đượt một cái chai, trong chai có một bức thư kêu cứu: “Trên tàu Sê Hêro có nổi loạn…”. Trong thư đó, còn viết rõ toạ độ nơi tàu Sê Hêro của nước Anh đang đi tới. Tàu Araguari vội phóng nhanh tới nơi, sẵn sàng tấn công bọn cướp trên tàu Sê Hêro. Ðến nơi, quả nhiên họ găp tàu Sê Hêro, trên tàu này vừa đúng xảy ra một vụ bạo loạn, nhưng vụ bạo loạn đã bị dẹp và không có ai t rên tàu gửi đi bức thư cấp cứu nào cả.

Vậy tại sao lại có bức thư trên? Hoá ra là cách đó mười sáu năm, nhà văn G.Pacminhton đã sáng tác cuốn tiểu thuyết Sê Hêro (Anh hùng biển cả), ông bèn thả xuống biển năm ngàn cái chai đựng các trích đọan cuốn tiểu thuyết của ông, để quảng cáo. Một trong những chiếc chai này, đã rơi vào tay các thuỷ thủ tàu Araguari và họ đã gặp một con tàu Sê Hêro có thật.

Thật là sự trùng hợp thật kỳ lạ phải không các bạn?

Nhìn bằng tai
Ðầu năm 1979, trong một xóm nhỏ của huyện Ðại Túc, tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) xảy ra một chuyện kỳ lạ, làm dư luận xôn xao.

Một buổi chiều cuối năm, em Trần Tiểu Minh gặp bạn học cùng lớp là Ðường Vũ trên đường đi học. Hai em vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ. Bỗng Ðường Vũ kéo tay Tiểu Minh bảo: “Này Tiểu Minh, trong túi bạn có một bao thuốc là thơm hiệu “Phi Yến”, phải không?”. Tiểu Minh ngỡ ngàng đến sững sờ. Bất giác, em nhớ tới những lần đó nhau “đoán chữ” ở trường, bất cứ chữ gì hỏi đến Ðường Vũ là cậu ta đều đoán chính xác. Nhưng lần này thì thôi nhé: “Bạn lại phịa ra rồi, trong túi tôi làm gì có bao thuốc lá nào!” Ðường Vũ lại kêu lên: “Bạn nói dối, trong túi bạn đang có một bao thuốc lá “Phi Yến”. Tôi nhìn rõ mồn một”. Tiểu Minh vẫn khoăng khăng không chịu và nói: “Làm sao bạn c thể nhìn thấy, ở đâu nào?”. Chưa dứt lời, Ðường Vũ thọc tay vào túi áo của Tiểu Minh, nói to: “Nó nằm ở đây” và rút trong túi ra một bao thuốc lá “Phi Yến”. Ðường Vũ nói với bạn, không hiểu sao, mình tự nhiên nhìn thấy bao thuốc là trong túi cậu. Nhưng không phải bằng mắt mà bằng bộ não. Bình thường, chơi trò đoán chữ, chỉ cần đưa tờ giấy lên lỗ tai là chữ viết trên giấy lập tức hiện lên trong não. Chỉ cần để ý “nhìn” một chút là có thể nhìn thấy được hết.

Chẳng khác gì chuyện thần thoại, Tiểu Minh không sao tin nổi. Nhưng chính em đã nhiều lần nhìn thấy trong trò chơi “đố chữ” ở trường. Ðường Vũ đã đưa giấy lên tai và đoán đúng chữ viết trong đó. Thật diệu kỳ, Tiểu Minh kéo bạn chạy một mạch đến trường, kể hết đầu đuôi sự việc cho thầy giáo chủ nhiệm nghe.

Thầy giáo chủ nhiệm thường đã biết ít nhiều về chuyện này. Nhưng ông vẫn nghĩ rằng, chuyện xảy ra trong trò chơi con nít, nên chưa thực sự chú ý. Giờ đây, khi nghe sự tường thuật đầy hứng thú của học trò, ông vẫn cứ nửa tin nửa ngờ. Trăm nghe không bằng một thấy! Hãy làm một cuộc thí nghiệm xem sao. Thế là, thầy viết mấy chữ lên mảnh giấy, vo viên rồi gọi hai người vào. Tự tay thầy nhét viên giấy vào lỗ tai Ðường Vũ và không cho Ðường Vũ đụng tay vào. Chưa đầy hai phút sau, Ðường Vũ reo lên: “Thưa thầy”, thầy đã viết “Tôi là Ðường Vũ”, bốn chữ phải không ạ?” Thầy giáo hết sức ngạc nhiên, chẳng lẽ đây là sự thật hay sao?! Thầy lại đi vào phòng bên cạnh, viết liền nhiều chữ vào mảnh giấy và vo viên lại thật nhỏ, tự ta6 thầy làm thứ tự từng viên vào lỗ tai Ðường Vũ. Người học trò như một vị “thần” và chỉ sau nửa phút, một phút… là em đã lần lượt “nhìn” ra chữ viết trên tất cả các viên giấy: “Huyện Ðại Túc, Tứ Xuyên, Trung Quốc”, “Tôi là một người học trò”, “Văn hoá, khoa học, kỹ thuật”, “Lợn, chó, ngựa, bò, dê”, “Tai tôi biết nhận chữ”, “36+18=54” v.v… Và thậm chí em vẽ lại đầu những đầu người, các con vật nhỏ mà thấy giáo đã viết lên trên giấy. Tin này, đã làm xôn xao mạnh mẽ trong cả vùng. Chưa bao giờ, nhà Ðường Vũ lại ồn ào náo nhiệt như lúc bấy giờ. Những người hiếu kỳ nối nhau đến để được tận mắt chứng kiến kỳ tích này.

Tin Ðường Vũ biết nhận chữ bằng tai không cánh mà bay. Phóng viên của tờ “Tứ Xuyên nhật báo” Trương Nại Minh nghe tin, muốn đến tận nơi tìm hiểu. Trên đường qua huyện Giang Tân, được biết em Ðường Vũ đã được cán bộ điạ phương đón lên. Thế là anh vội vàng tới huyện, để cùng các cán bộ khác tham gia vào việc thí nghiệm. Họ đã viết nhiều chữ lên các mảnh giấy gấp đôi, gấp bốn và vo viên. Sau đó kiểm tra từng viên giấy một, đến khi quả quyết không có kẽ hở nào thì họ mới đưa vào lỗ tai Vũ, để em nhận biết.

Ngồi giữa đám người lớn đang tò mò mong đợi. Ðường Vũ nhẹ nhàng đưa từng viên giấy lên tai và đọc vanh vách ra từng chữ một trên đó. Ðiều đáng kinh ngạc là em đã đọc không sai một chữ bài thơ Ðường của Lý Bạch: Ánh trăng soi trước sân, ngờ ngợ giọt sương rơi, ngẩng đầu ngắm trăng sáng, cúi đầu nhớ quê nhà”. Ðiều đó, quả là vượt quá sức tưởng tượng.

Trương Nại Minh và cán bộ địa phương không thể tin nổi sự thực trước mắt mình. Họ suy nghĩ, bàn tính tìm mọi phương pháp thích hợp hơn, để xác nhận thêm sự thực đó.

Ngày hôm sau, họ đề nghị Ðường Vũ là sẽ nhờ em nhận chữ trong phòng tối. Ðường Vũ gật đầu, vui vẻ nhận lời. Thế là cuộc thí nghiệm mới lại bắt đầu. Trong một gian phòng tối bưng. Ðường Vũ lần lượt nhận ra tất cả chữ viết trên mười tờ giấy vo viên. Ðặc biệt, em còn nói với mọi người về màu sắc của chữ, chữ viết bằng bút lông, bút máy hay bút chì… Tất cả những người tham gia viết chữ, đã tự tay mình đưa viên giấy của mình viết lên tai Vũ, đã thừa nhận đó là một sự thực không thể phủ nhận.

Ðường Vũ nói với mọi người là tay em như có điện, khi vừa cầm mẩu giấy có chữ, là trong óc em, có ngay sự phản ứng ban đa6`u, đến khi viên giấy để vào lỗ tai, thì bộn não cứ như màn ảnh hiện rõ từng nét trên đó. Nếu như, lúc ấy người em vui vẻ, hoàn cảnh yên tĩnh thì đường nét các chữ hiện lên rõ hơn và sáng hơn, chẳng những em có thể viết ra những chữ em đã học, mà còn có thể “vẽ” ra những chữ chữ Hán chưa biết và cả chữ Anh nữa.

Trương Nại Minh cho rằng: dù hiện tượng này chưa tìm được cơ sở để giải thích, nhưng chắc chắn nó vẫn tồn tại một cách khách quan. Vậy thì em Vũ có gì khác với các bạn cùng lứa tuổi? Và hiện tượng này có giá trị gì đối với khoa học không…?

Xem bói bằng gương
Rai-sa Nhi-cô-lai-ép-na là một người đàn bà đứng tuổi, có đôi mắt mầu xanh và cái nhìn cởi mở, hiện đang sống (1990) ở thủ đô Mát-xcơ-va. Bà làm việc tại Ban tìm kiếm người thất lạc thuộc Hội những người có khả năng khác thường.

Rai-sa nổi tiếng vì một khả năng đặt biết mà người ngoài cuộc chúng ta thường gọi là xem bói. Nếu như bà “phù thủh” Van-ga hay xem bói bằng một viên đường thì Rai-sa lại hay dùng gường và giấy. “Tiếng lành đồn xa”, một phóng viên của báo Sự thật thanh niên tên là O. Ca-ma-da đã đến gặp Rai-sa xem thực hư ra sao. Anh nói với Rai-sa là mình có một người bạn đang làm phóng viên tại Mê-hi-cô, đề nghị bà nói đôi điều về người ấy. 15 phút sau, Rai-sa đã miêu tả như sau: “Người bạn của anh đang ở nhà, đang ngồi bên một chiếc bàn gỗ màu nâu. Trong phòng có cả vợ anh ta, một phụ nữ hơi cao, tóc màu thẫm, chải rất gọn ghẽ. Bạn của anh khoảng 30-35 tuổi, khuôn mặt to, cởi mở. Hôm qua anh ấy mặc một chiếc áo sơ mi sáng màu, bên ngoài áo Blu-dông, anh ta đi qua một toà nhà trông khá lạ mắt, kiểu như cái tháp có hình ô-van, trên mái có nóc nhọn”. Ca-ma-da không tin nên đã gọi ngay điện thoại đường dài cho ngay bạn mình ở Mê-hi-cô, nhưng thật không ngờ, hầu như mọi chi tiết đều trùng lặp hoàn toàn. Thậm chí người đàn ông ở Mê-hi-cô còn kể rằng hôm qua vợ anh mới đi làm đầu và chiều hôm qua anh có đi qua toà nhà của phòng thương mại quốc tế, đó là toà nhà hình tháp, mái ô-van có nóc nhọn.

Sự chính xác đến ngạc nhiên đó vẫn chưa đủ thuyết phục Ca-ma-da. Anh tiếp tục hỏi Rai-sa: “Thế kỳ nghỉ phép năm ngoái tôi đã đi nghỉ cùng ai?”. Người đàn bà trả lời tuyệt đối chính xác và đề nghị anh hãy hỏi cái gì đó khó hơn. Ca-ma-da bèn lấy tấm ảnh mà toà soạn của anh mới nhận được, bỏ và phong bì, dán kín. Lập tức Rai-sa nói: “Trong phong bì là ảnh một chàng trai, áo sơ mi mở phanh cúc, tay áo xắng cao, tóc bù xù…” …. Lại một lần nữa tất cả đều đúng như in!

Theo lời Rai-sa thì bà học “nghề” này từ bà cô của mình, còn bà cô lại học từ một người anh trai và ông chú ruột. Có một điều lạ là mẹ của Rai-sa là bà Ða-r-a I-va-nô-va lại hoàn toàn không biết bói, mặc dù đã tập thử mấy lần. Rai-sa nói: “Ðể bói được thì phải cần một cái gì đó, mà chính tôi cũng không biết đó là cái gì, chỉ biết rằng rất cần. Ðã nhiều lần tôi cố gắng giải thích cho mình xem cái đó là cái gì nhưng không có kết quả. Trên thực tế, việc bói toán của tôi không có gì bí ẩn và phức tạp cả: chỉ cần nhắm mắt lại, đốt mảnh giấy mà trong đó có ghi câu hỏi cần bói, rồi làm vài động tác nữa là tất cả đều hiện rõ trong tấm gương, y như trên màn ảnh: những con người, nhà cửa, câu cối.v.v…

Lần đầu tiên Rai-sa thử bói là khi bà còn làm việc ở một hiệu uốn tóc. Hôm đó Rai-sa quyết định bói xem cô bạn cùng làm việc với mìh đã sắp lấy chồng hay chưa…. Trên tấm gương xuất hiện một hình người mặc áo lính nhưng không rõ mặt. Rai-sa nói với bạn: “Sắp tới cậu sẽ lấy một chàng bộ đội, nhưng hiện giờ cậu chưa hề biết anh ta đâu.” Quả nhiên 8 tháng sau, cô bạn của Rai-sa làm quen với một người đang phục vụ trong quân đội và họ đã kết hôn với nhau.

Cách đây mấy năm, một người quen của Rai-sa có nhờ bà bói cho bà bạn của mình có cô con dâu mất tích đã ba năm, công an tìm mãi vẫn chưa thấy tung tích. Rai-sa nói: “Hãy nói lại với bà ấy là cô con dâu của bà vẫn đang sống. Hiện tại cô ta đang ở đâu đó vùng ven Tát-sken. Cô ấy sống cùng hai người đàn ông, một già, một trẻ”.

Nửa năm sau, đúng là bà mẹ chồng nhận được thư của con dâu, báo tin rằng đang sống ở Bu-kha-ra, sắp tới sẽ trở về nhà.

Hồi con trai của Rai-sa còn nhỏ, có lần cậu bé bị ốm rất nặng, các bác sĩ khẳng định đưá bé sẽ không qua khỏi… Quá đau buồn, Rai-sa quyết định bói cho mình xem sao, không ngờ trên tấm gương lại xuất hiện cảnh đứa bé ngồi chơi trên đi văng bên cạnh người chú của mình. Thực tế đã đúng y như vậy, đứa con khỏi bệnh, người chú đến và họ cùng nô đùa trên đi văng. Rai-sa nói rằng nếu tấm gường xuất hiện cảnh bệnh tật, chết chóc, tai nạn v.v… thì trên thực tế khó lòng tránh khỏi, trước sau cũng sẽ xảy ra.

Có lần Rai-sa còn giúp ủy ban điều tra hình sự Thành phố Mát-xcơ-va tìm ra thủ phạm đã từng ăn cắp gây án nhiều lần. Rai-sa có thể miêu tả thủ phạm một cách chính xác, dù cho vụ án đó có xảy ra 5 hoặc 10 năm trước. Cih? có điều bí mật là: Rai-sa không bao giờ bói về những người đã chết.

Chồng của Rai-sa luôn luôn phàn nàn là ông không thể nào giấu được bà điều gì. Bà luôn biết chính xác trong túi ông có bao nhiêu tiền.

Người có đôi tay thần
Chị là một phụ nữ hiện đại, không tin vào ma quỷ, chỉ tin vào khoa học. Là họa sĩ trong một nhà máy ở Mát-xcơ-va, sau giờ làm việc, chị thường xuyên tới phòng thí nghiệm thần giao cách cảm, thuộc Hội khoa học kỹ thuật vô tuyến điện tử và tin học mang tên Pô-pốp. Dưới sự chỉ đạo của giáo sư, tiến sĩ khoa học kỹ thuật Cô-gan. Chị đã làm khoảng năm nghìn thí nghiệm với bản đồ. Người ta cũng đề nghị Lút-mi-la xác định vật để trong phong bì kín – hình tròn, vuông, ngôi sao…. Có những loạt thí nghiệm chị trả lời đúng 25/15. Kết quả này không chỉ khẳng định khả năng bất thường của chị, mà còn loại bỏ các ý kiến nghi ngờ rằng thực nghiệm và hiện tượng thần giao cách cảm là khái nghiệm kỵ nhau.

Có nhiều thí nghiệm khác phức tạp hơn. Một bác sĩ khoa hồi sức đặt cuốn giấy điện tâm đồ lên bàn. Nhiệm vụ của Lút-mi-la là không được mở ra xem, nhưng phải kể về tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân. Dù có nhìn thấy các hình tâm đồ, thì chị cũng chẳng hiểU gì. Vậy mà khi sờ hai tay lên tờ giấy, lần nào chị cũng nói đúng, cụ thể tình trạng của bệnh nhân: còn sống hay không, sức khoẻ thế nào. Theo lời ông trưởng phòng thí nghiệm, trong hàng trăm thí nghiệm, có 3/4 số lần thành công và được ghi vào biên bản. Đây là một thí nghiệm điển hình: Hơn hai năm trước có một binh sĩ mất tích trong khu vực quân sự thuộc U-crai-na, các cuộc tìm kiếm không mang lại kết quả. Nhưng tiếng đồn về phòng thí nghiệm bí ẩn ở Mat-xcơ-va lan rộng khắp liên bang, nên thân nhân người mất tích đã tới nhờ Lút-mi-la giúp đỡ. Chị đồng ý, yêu cầu cho xem ảnh người mất tích và tấm bản đồ nơi anh ta phục vụ. Điều đầu tiên, Lút-mi-na xác định anh lính đã chết. Với tấm bản đồ (chị vẫn giơ hai tay lên tấm bản đồ để rút ra kết luận thực) chị xác định khu vực tử thi nằm. Song khu vực được xác định quá rộng, gần 20 km vuông, nên không thể tìm kiếm được. Lút-mi-la bèn đến tận nơi, với tấm bản đồ chi tiết hơn, khu vực tìm kiếm thu hẹp lại còn 1 km vuông. Chị nói rõ: “Người này bị giết, cạnh xác có con dao”. Thông tin đặc biệt này được đưa vào hồ sơ, nhưng người ta lại tìm kiếm nơi khác, nơi điều tra khẳng định. Mấy tháng sau, dân địa phương tình cờ phát hiện xác người chết đúng nơi chị nói, bên cạnh có con dao!

Sau khi có những bài báo đăng về chị và được giới thiệu trên vô tuyến truyền hình, hàng ngàn người đã nhờ chị giúp. Chẳng hạn công dân Côn-ki-na ở Mát-xcơ-va đề nghị chị nói giúp về số phận cu/a người cha bỗng nhiên mất tích. Lút-vi-la trả lời: Ông cụ còn sống nhưng bị bệnh nặng vùng não. Thông tin này xem ra rất lạ, vì xưa nay ông cụ chưa bị đau đầu bao giờ. Hơn nữa, Lút-mi-la chỉ rõ nơi ông cụ nằm trên bản đồ Mat-xcơ-va và khuyên người nhà hỏi các bệnh viện. Quả nhiên, họ tìm thấy cụ già trong bệnh viện thành phố với căn bệnh “đứt mạch máu não”.

Phòng thí nghiệm cũng thu hút các nhà điều tra hình sự, những người chỉ quen làm việc với bằng chứng. Lút-mi-la nhiều khi cũng giúp được họ cung cấp những thông tin như: “Người đó bị giết bởi hai kẻ quen biết từ trước, chết vì hai cú đánh vào đầu, xác bị vù dưới đất. Chị chỉ ra cả vị trí. Không lâu sau, lời khẳng định chính thức được gửi tới: “Tử thi được phát hiện đúng chỗ chị đã nói, lấp dưới đất. Người nạn nhân bị giết do hai người bạn cũ gây ra, bị đánh vào đầu”.

Trong hơn một trăm trường hợp phòng thí nghiệm biết kết quả chắc chắn, Lút-mi-la không sai một lần. Tiến sĩ Cô-gan cho rằng: “Trong khoa học cái thực sự mới mẻ chỉ là cái ngày hôm nay chúng ta chưa chấp nhận. Nhiệm vu của khoa học là phải nghiên cứu những điều chưa hiểu được…”.

Kính hiển vi sống
Theo giáo sư tiến sĩ R.Hin-xơ thuộc viện nghiên cứu y-quang học Mu-ních, đôi mắt của chị V. Dây-đe, 33 tuổi sống ở thành phố Lút-vít-xbuốc (CHLB Đức), là một kính hiển vi sống kỳ diệu. Trên bức bưu ảnh bình thường, chị V.Dây-đe có thể viết hẳn một bài văn, hơn 236 nghìn chữ cái. Chị đã viết bản trường ca Chúa sơn lâm của đại thi hào Gớt trong ba mặt giấy khổ 7×8 mi-li-mét. Vốn là bác sĩ chuyên khoa về miệng, chị V.Dây-đe chỉ làm công việc theo sở thích này vào những lúc rảnh rổi. Chị viết bản trường ca trên bằng một chiếc bút chì cứng, và cứ viết xong hai chữ cái lại phải vót lại bút chì để có nét mảnh như ý. Mỗi một trang viết như vậy, chị Dâ-đe phải làm việc cật lực trong ba ngày liền.

Khả năng nhìn hết sức tinh tường giúp chị rất nhiều trong nghề thầy thuốc, song lại gây than thở: “Tôi đọc báo rất vất vả vì những sợi giấy cứ đang vào nhau nhằng nhịt làm rối cả chữ viết. Tôi cũng không thể n ào xem được các buổi truyền hình màu vì trên màn ảnh chỉ thấy những chấm màu chẳng ra hình thù gì cả.

Người có cặp mắt thần
TTL là một cô gái trẻ đẹp, mắt sáng long lanh, năm nay (1995) vừa tròn 30 tuổi. Cô làm y sĩ bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân trong nước. Những người sống quanh cô gọi cô là người có đôi mắt thần bởi cô có khả năng nhìn xuyên qua cơ thể người khác và “nhìn” được bằng tai. Một tờ báo lớn đã mời TTL đến biểu diễn khả năng của mình. Đông đảo các nhà báo tham gia cuộc thử nghiệm với thái độ bán tín bán nghi. Đầu tiên một người lấy giấy viết hàng chữ gì đó, vo lại rồi nhét vào tai cô. TTL trầm tư một lát rồi nói: “Đây là 3 chữ “Cảm ơn cô” viết bằng bút máy trên giấy trắng”. Cả phòng họp ồn lên, người ta truyền nhau xem mảNh giấy vừa được lấy ra vuốt phẳng. Sau khi xác nhận khả năng đóng chữ đúng của cô, người ta chuyển sang phần thử nghiệm xem cô đoán bệnh có “thần” như thế không?

Trong một căn phòng được tắt đèn và kéo rèm các cửa cho tối, TL bắt đầu khám bệnh cho một bệnh nhân nữ được đưa tới. Không một lời hỏi han, cô nhìn chăm chú vào cơ thể người bệnh sau lớp quần áo rồi nói: “Đại tràng của chị bị loét, không thấy có khối u nào”. Bệnh nhân kinh ngạc một cách thán phục: “Chỉ chẩn đoán rất chính xác. Đúng như kết quả kiểM tra bằng máy cu/a bệnh viện cách đây mất hôm”. Rồi bệnh nhân hỏi tiếp: “Vì sao khi mắt chị nhìn tôi, thì tôi thấy n’ng ran và hơi đau như thế?”. TL đáp: “Tôi cũng không rõ vì sao, những người bệnh khác cũng đều có cùng ý như thế, chỉ có khác là mạnh hay yếu thôi. Cá biệt bệnh nhân còn có phản ứng run run bắn. Thậm chí ngất xỉu”.

Người ta nêu các câu hỏi thì cô trả lời hết sức thoải mái tự tin:

– Công năng đặc biết có tính dị truyền không? Công năng đặt biết của chị được phát hiện từ bao giờ?

– Có di truyền. Còn cụ thể thì tôi không rõ. Ông nội tôi có khả năng đặt biệt loại “thị cảm”, ông chỉ cần nhìn người là biết chứng bệnh nào không thể chữa chạy được. Ông bèn dặn thân quyến họ kiếm thứ ngon nhất cho họ ăn và chuẩn bị lo chuyện ma chay. Kết quả dự đoán của ông bao giờ cũng đúng. Hồi đó người ta còn mê tín, họ cho rằng tại ông tôi nguyền rủa, vì thế họ kéo đến đánh chết ông tôi.

Công năng của tôi được phát hiện khi tôi 4 tuổi, cứ đến đêm là tôi thấy bố mẹ tôi là những bộ xương, sợ quá tôi kêu thét lên. Năm lên 8 tuổi, ra đường tôi thấy trong bụng một người có một em bé rất “ngộ”, bèn đi theo và xem khiến người ta rất sợ hãi. Năm tôi học cấp 3, có người đến nhờ tôi xem trong bụng có giun sán không, đa số là các bà đến nhờ tôi xem họ đang chửa con trai hay con gái. Sau 5 năm học tại trường quân y, tôi xem bệnh chính xác, đâu là gan, đâu là tụy.

– Công năng của chị có chữa được bệnh không?

– Hiện giờ tôi không rõ, một lần có một người bệnh nhân trong bệnh viện, tôi vừa nhìn thì người bệnh đó ngất đi, sau đó bệnh tình bà ta không chạy chữa gì mà tự nhiên khỏi cả – điều này vì sao tôi không rõ.

Mấy năm qua tôi đã chuẩn đoán cho 4 vạn người bệnh, tỷ lệ chính xác 90%, hình ảnh trên máy là đen trắng và phẳng, còn tôi nhìn thấy được màu sắc nội tạng.

– Mỗi ngày chị khám cho bao nhiêu người?

– Mỗi ngày 3 người, người đầu tiên nhìn rất rõ nét, người thứ hai còn được, người thứ 3 thì đã mờ; sau một ngày làm việc về tôi không muốn ăn uống gì cả, 2 chân nhũn ra, đồng tử mắt giãn ra, người rất mệt mỏi, trí nhớ bị giảm sút. Thường phải 4 – 5 giờ sau cơ thể mới trở lại bình thường.

Nhìn qua vật cản còn gọi là khả năng thấu thị. Trên thế giới có nhiều người có khả năng nhìn thấu thị như nhà ngoại cảm U-ri-ge-be người I-xra-en, bà I-u-lia Vô-rô-bi-ô-vơ người U-cơ-ren (thuộc Liên Xô cũ) v.v…

Khả năng cảm nhận bức xạ hồng ngoại của những bộ phận trong cơ thể con người. Giải thích về hiện tượng người có ý kiến cho rằng: trường sinh học với mật độ năng lượng lớn sẽ tương ứng với bức xạ có tầng số cao, mà các bức xa có tần số cao lại có khả năng xuyên sâu tực những tia Xquang vậy. Hiện tượng thấu thị cách xa đó là khả năng lan toả đặc biệt của năng lương trường sinh học. Ở Việt Nam có Đỗ Bá Hiệp có khả năng nhìn xuyên qua đất, em Nguyễn Thủy Vân (Hà Sơn Bình) nhìn xuyên qua vật cản.

Nhìn bằng da
Chúng ta đã biết ở Liên Xô có Vô-rô-bi-ô-va, có thể bằng mắt nhìn xuyên suốt cơ thể con người. Còn nhà khí công Nghiêm Tân (Trung Quốc) cũng có thể nhìn xuyên suốt cơ thể con người, khi ông muốn chuẩn đoán bệnh cho một ai đó. Có người có thể dùng tai để nhận biết chữ viết. Bằng các thực nghiệm khoa học, các nhà khoa học BẮc Kinh (Trung Quốc) đã chu8″Ng minh được tính chân thực của “thị giác không dùng mắt”. Khả năng “thị giác không dùng mắt” còn thể hiện ở da. Hiện nay, trên thế gio8″i có hang trăm người qua luyện tập, có thể dùng ban tay mà biết được màu sắc đồ vật và đọc chữ. Lần đầu tiên, các thầy thuốc Liên Xô phát hiện ra giác quan mới này ở Rô-da Cu-lê-xô-va (sinh năm 1940), thành phố Ni-giơ-ni-Ta-ghin.

Năm 1960, Rô-da hai mươi tuổi, phụ trách nhóm kịch của những người mù, thấy người mù sờ chữ nổi để đọc sách, cô thử bịt mắt tập đọc sách bằng tay và bí mật chơi một mình trò ấy mấy năm liền. Rô-da nhắm mắt sờ biết màu sắc, biết rõ hình in trên tem, bao diêm, bao thuốc lá. Người ta lồng sách vào vỏ gối, bảo Rô-da một tay bịt mắt, tay kia thọc trong áo gối sờ chữ và cô đã đọc luôn cả hai trang sách.

Hồi đó, tại rạp xiếc trẻ em mơ”i khánh thành ở phố quê hương Ni-giơ-ni Ta-ghin, không bao giờ thiếu tiết mục của cô Rô-da. Cô đã đến biểu diễn ở Toà soạn báo Khoa học và đời sống. Rô-da đọc được bằng khuỷu tay và ngón chân những trang in chữ to bỏ trong phong bì, những con số viết lên không khí trên một tờ giấy trắng, như thể nhận biết dấu vết hơi ấm ngón tay người vừa viết. Rô-da nhận xét: “Lúc đọc sách, tôi có cảm giác nóng ấm trên các ngón tay khi gặp màu đen, cảm giác lạnh khi gặp màu trắng”.

Tại Viện Lý sinh thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, viện sĩ B. Rô-ma-nốp đã tự tay bịt mắt Rô-da bằng vải đen nhồi bông, viện sĩ ỊB Kô-da-dep cẩn thận lấy thêm tập hoạ báo dày che mắt cô, một người nữa đặt dưới bàn chân trần của cô cách 5 cm một tờ báo, nhưng Rô-da vẫn đọc lưu loát. Nhắm mắt, cô nhận biết được người và vật đứng cách xa hai, ba mét.

Rô-da Cu-lê-xô-va sờ qua kính, những đọc được dễ dàng những chữ đánh máy màu đen, tuy thế cô không đọc nổi những chữ trên giấy nến hằn rõ hơn, nhưng không có màu. Rô-da bịt mắt xem các bức tranh càng sáng càng rõ, song tắt đèn thì mù tịt.

Như thế chứng tỏ đây không phải là xúc giác cơ học của da, mà là một cảm giác quang học giúp da nhận biết ánh sáng, màu sắc, không cần áp da vào bề mặt màu.

Mặc dù vậy, da nhận biết màu một cách gián tiếp, khác với mắt nhìn. Khi màu sắc tác động, da như vào những chấm, những đường sáng, những sóng điện từ… Thị giác của da tốt nhất với màu tím, rồi đến màu đỏ (hai rìa quang phổ), kém các màu vàng, xanh da trời.

Người có khả năng nhìn bằng da cũng nhạy cảm với các sóng điện tử và nhiệt. Rô-da Cu-lê-xô-va đã tìm ra cách chuẩN đóan một số bệnh làm tăng nhiệt một số vùng trong cơ thể. Cô còn có thể đoán được ý nghĩ của những người chung quanh.

Với giác quan đặc biệt sờ thấy màu sắc, hơn nữa nhìn thấy qua vật cản, Rô-da Cu-lê-xô-va, trung tá an ninh Liên Xô, đã lập những chiến công hiểN hách trong công tác tình báo và được Nhà nước Xô Viết tặng thưởng huân chương Sao Đỏ.

Advertisements

Y Kien

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: